Ca dao Chống phong kiến – Thực dân 2

Chuyên mục : Kho tàng Ca Dao

Tuyển tập Ca dao Chống phong kiến – Thực dân hay nhất, được ông cha ta đúc kết, truyền lại cho các thế hệ sau học tập và noi theo.


Đường xa, chân bước, tai nghe.
Tin vui chiến thắng đưa về khắp nơi.

Chị em đã quyết chẳng chùn,
Hai vai áo ướt chân bùn đường trơn.
Đường trơn thì mặc đường trơn,
Em gánh thóc thuế chẳng sờn hai vai.
Trời mưa cho ướt lá khoai.
Thóc em không ướt vì ngoài lá che.

Bắc Nam là con một nhà.
Là gà một mẹ, là hoa một cành.
Nguyện cùng biển thẳm non xanh,
Thương nhau nuôi chí đấu tranh cho bền.

Ngọn núi Truồi vừa cao, vừa dựng,
Lòng người Thừa Thiên vừa cứng, vừa dai.
Dù cho nắng sớm mưa mai.
Sóng dồn gió dập, vẫn tranh đấu
cho Nam Bắc, trong ngoài gặp nhau.

Đập đoàng Tây bắn ca nông,
Vườn rau ta trồng, ta cứ trồng thêm.
Đập đoàng Tây bắn vang rền
Đồng bào, bộ đội cày thêm cứ cày.

Ai qua phố phủ Đoan Hùng,
Hẳn rừng còn nhớ voi gầm sông Lô.
Rừng xnh khói lửa mịt mù.
Nước sông đỏ máu quân thù chưa phai.
Luyện quân voi luyện cho tài
Lập công voi xé một vài ca nô.
Dòng sông nước đục lờ đờ
Bên kia bãi cát: nấm mồ thực dân!

Mồ hôi đổ xuống ruộng bờ,
Mới thành hạt lúa đổ kho lần này.
Chiến trường bộ đội diệt Tây
Hậu phương xin giữ cho đầy lúa thơm.

Tiền phương bộ đội thi đua,
Đánh cho giặc Pháp chạy thua rụng rời.
Hậu phương đóng thuế kịp thời
Làm cho giặc chết gấp mười gấp trăm.

Lẻ loi như cụm núi Sầm,
Thản nhiên như mặt nước đầm Ô Loan.
Từ ngày giặc Mỹ kéo sang.
Núi Sầm lửa dậy, Ô Loan sóng trào.
Quê mình tay súng tay dao.
Đầm sâu làm huyệt, núi cao làm mồ,
Vùi thây Mỹ Ngụy côn đồ.
Chôn mưu thâm độc, diệt trò gian ngoan.
Chừng nào Mỹ bại Ngụy tan.
Núi Sầm tươi mát, Ô Loan êm đềm.

Về đi, sống với ruộng vườn,
Vồng khoai, nương sắn, xanh rờn chè tươi.
Tội gì theo giặc, anh ơi!
Ngàn năm bia miệng, người đời cười chê.

Ai ơi, chớ dại chớ lầm,
Lương tâm bán rẻ, đi cầm súng Tây.
Máu người thân vấy đầy tay,
Hại dân hại nước, tội này ai tha?

Đò ai chở khách lấy tiền,
Đò tôi chở gạo đi lên kịp ngày.
Gạo lên tiền tuyến giết Tây
Nước to, sóng cả đò đây vẫn chèo.


Trên trời có đám mây vàng
Em đi tiếp vận cho chàng giết Tây.
Thằng Tây tiếp tế máy bay,
Không bằng tiếp vận chân tay chúng mình.
Một năm chín tháng dưới hầm
Mặc da xanh ủng, mặc cằm đầy râu.
Hết nằm bãi sậy, rừng lau,
Lại nằm bụi dứa hầm sâu quanh nhà.
Mười đồn ta quét còn ba.
Sờ cằm cứ ngỡ tuổi già năm mươi.
Ba đồn quét gọn một hơi
Soi gương lại thấy tuổi hai mươi về.

Bên sông thưa thớt tiếng gà,
Mây trôi xuống biển, trăng tà về tây.
Đò em đợi bến sông này,
Đưa đoàn chiến sĩ đêm nay lên đường.
Đò em chở bạn tình thương,
Chở lòng yêu nước can trường qua sông.
Xôn xao tiếng giục xuống thuyền
Chen vai sát cánh ngồi bên mạn thuyền.
Trăng lên in bóng gương treo.
Dưới dòng nước chảy như theo đoàn người.

Thằng Tây cậy có máy bay,
Ta có phép này bịt mắt mày đây.
Ngụy trang ta lấy cành cây,
Gài cho thật kín, đố mày biết tao.

Nằm trong bụi rậm chờ Tây,
Có con chim nhỏ đậu ngay trước nòng.
Chim xòe cánh nhỏ rỉa lông.
Líu lo chim hót vừa trong vừa lành.
Chim ơi! Giặc đến đã gần,
Bay đi kẻo nữa súng gầm nơi đây.
Mai ngày tạnh gió quang mây.
Đậu đâu tùy mày, ta chẳng can đâu.

Ra công trồng một vườn cà,
Cà đen muối mặn cả nhà ăn chung.
Vịt gà nuôi béo nhốt lồng.
Chờ anh bộ đội lập công trở về.

Thằng Tây chớ cậy xác dài,
Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày
Thằng Tây chớ cậy béo quay,
Mày thức hai buổi là mày dở hơi!
Chúng tao thức bốn đêm rồi,
Ăn cháo ba bữa, chạy mười chín cây.
Bây giờ mơi gặp mày đây,
Sức tao vẫn đủ bắt mày hàng tao!

Lỡ lầm vào đất cao su,
Chẳng tù thì cũng như tù chung thân.

Trập trùng bước thấp bước cao,
Đường xa dặm thẳm biết bao nhọc nhằn.
Trên vai đạn mấy mươi cân,
Mang đi bắn nát đầu quân bạo tàn.

Bao giờ hết cỏ Tháp Mười,
Thì dân ta mới hết người đánh Tây.

Xa xa Côn Đảo nhà tù,
Biển sâu mấy khúc, lòng thù bấy nhiêu.

Nghèo thì ăn sắn ăn khoai,
Ai ơi, đừng có theo loài Việt gian.

Chém cha lũ Nhật côn đồ!
Bắt người cướp của, tha hồ thẳng tay.
Dân ta trăm đắng ngàn cay,
Thóc ăn chẳng có trồng đay cho người!

Cao su đi dễ khó về,
Khi đi mất vợ khi về mất con.
Cao su đi dễ khó về,
Khi đi trai trẻ, khi về bủng beo.

Cái thằng Tây nó ác quá.
Nó đánh, nó đá, nó cưỡng hiếp, chửi mắng lôi thôi.
Trở về nương rẫy đi thôi,
Làm than khổ lắm, đấm buồi làm than!

Chớ tham đồng bạc con cò,
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa.

Bể Đông có lúc vơi đầy,
Mối thù đế quốc, có ngày nào quên!

Ruộng ta ta cấy, ta cày,
Không nhường một tấc cho bầy Nhật, Tây.
Chúng mày lảng vảng tới đây,
Rủ nhau gậy cuốc, đuổi ngay khỏi làng.

Từ ngày Cảnh Trị lên ngôi,
Khoai chửa mọc chồi đã nhổ lên ăn.
Nên ra trên kính dưới nhường
Chẳng nên đạp tắt bên đường mà đi.

Từ ngày Tự Đức lên ngôi,
Cơm chẳng đầy nồi trẻ khóc như ri.
Bao giờ Tự Đức chết đi,
Thiên hạ bình thì lại dễ làm ăn.

Đàn ông quan tắt thì chầy
Đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan.

Bớt đồng thì bớt cù lao,
Bớt ăn bớt uống thì tao bớt làm.

Có ăn vất vả đã cam,
Không ăn ta nghỉ, ta làm làm chi.

Làm thì chẳng muốn bằng ai,
Ăn thì thứ nhất, thứ hai trong làng.

Người trên ở chẳng chính ngôi,
Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.

Sông Hương nước chảy lờ đờ,
Dưới sông có đĩ, trên bờ có vua.

Chừng nào thằng ngốc làm vua,
Thiên hạ mất mùa, người khó làm ăn.

Trông lên cửu bệ trùng trùng,
Những là gấm vóc tía hồng nguy nga.
Nhìn về đồng ruộng bao la,
Cùng đinh đóng khố phơi da mình trần.

Vạn niên là Vạn niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.


Đẻ đứa con trai,
Chẳng biết nó giống ai.
Cái mặt thì giống ông cai,
Cái đầu ông xã, cái tai ông trùm.

Khi sang mẹ nó cho sang,
Bây giờ quan cấm đò ngang, không chèo.

Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Thuyền than lại đậu bến than,
Gặp cô yếm thắm, ôm quàng ngang lưng.
Thôi thôi, tôi van cậu rằng đừng
Tuổi tôi còn bé chưa từng nguyệt hoa.
Tôi về gọi chị tôi ra,
Chị tôi đã lớn, nguyệt hoa đã từng.

Cậu cai nói dấu lông gà,
Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.
Ba năm được một chuyến sai,
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.

Tháng tám có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần ra đứng đầu làng trông quan.

Trời mưa cho ướt lá bầu
Anh làm lính lệ đi hầu ông quan.
Thương người mũ bạc, dát vàng,
Đem thân mà đội mâm cam cho đành.

Em đừng thấy lính mà khinh,
Lãnh binh, thống chế, tam dinh một đồng.

Nhà bay chết lợn, toi gà,
Năm ba ông cống đến nhà ngày mưa.

Quan văn mất một đồng tiền
Xem bằng quan võ mất quyền quận công.

Lúc thì chả có một ai,
Lúc thì ông xã, ông cai đầy nhà.

Thừa quan rồi mới đến dân
Thừa nha môn, mới đến phần đò đưa.

Quan có cần nhưng dân chưa vội,
Quan có vội, quan lội quan sang.

Đã giàu thì lại giàu thêm,
Đã khó lại khó cả đêm lẫn ngày.

Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra bóc trần, ai cũng như ai.

Cái cò mày mổ cái tôm,
Cái tôm quặp lại, lại ôm cái cò.
Cái cò, mày mổ cái trai
Cái trai quặp lại, lại nhai cái cò.

Con lành con ở cùng bà,
Vắng mình sốt mẩy, con ra ngoài đường.

Cái cò, cái vạc cái nông,
Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?
Không! Không! Tôi đứng trên bờ,
Mẹ con cái vạc, đổ ngờ cho tôi.
Chẳng tin thì ông đi đôi,
Mẹ con nhà nó còn ngồ đây kia.

Ra đường võng giá nghênh ngang,
Về nhà hỏi vợ: “Cám rang đâu mày?”.
Cám rang tôi để cối xay,
Hễ chó ăn mất thì “mày với ông!”

 

 

 

 

Tư vấn Giải pháp Hưu Trí

Phúc lợi Doanh nghiệp

Gia đình và Pháp luật

An sinh giáo dục

Bảo hiểm & Cuộc sống